THÔNG TIN CẬP NHẬT

Website liên kết

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

LIÊN KẾT

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Đình Quý)
  • (Trương Thanh Lam)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Thời tiết

    DANH NGÔN

    HOA SEN

    ẢNH ĐẸP

    Gốc > TỔ CHUYÊN MÔN > VĂN > TIN TỨC >

    DE - DAP AN THI THU THPT (II)

    SỞ GD& ĐT TÂY NINH                             ĐỀ THI THPT QUỐC GIA NĂM HỌC 2014 – 2015 (IV)

    TRƯỜNG THPT TÂY NINH                                             MÔN: NGỮ VĂN

    Thời gian:  180 phút (không kể thời gian giao đề)

     

     

     

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

    Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:  …

    (1) “Tôi có một nước Nhật để tự hào… Tôi tự hào vì đất nước tôi không có bề dày văn hiến lâu đời nên chúng tôi sẵn sàng học hỏi và tiếp nhận tinh hoa mà các dân tộc khác “chia sẻ”. Từ trong trứng nước, mỗi đứa trẻ đã được học cách cúi chào trước người khác. Cái cúi chào ấy là đại diện cho hệ tư tưởng của cả một dân tộc biết trọng thị, khiêm nhường nhưng tự trọng cao ngời. Tôi tự hào vì đất nước tôi được thử thách nhiều hơn bất kỳ ai. Khi thảm họa động đất sóng thần kép diễn ra, cả thế giới gần như “chấn động”. Chấn động vì giữa hoang tàn, đổ nát, đói khổ và biệt lập, người ta chỉ nhìn thấy từng dòng người kiên nhẫn xếp hàng nhận cứu trợ và cúi đầu từ tốn cảm ơn. Không có cảnh hôi của, lên giá, cướp bóc, bạo lực nào diễn ra giữa sự cùng khổ...

    (2) Bạn cũng có một nước Việt để tự hào…. Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường. Tại các thành phố, chỉ cần nhà mình sạch sẽ là được, ngoài phạm vi ngôi nhà, bẩn đến đâu, không ai quan tâm. Ở các nhà máy, nếu không biết dồn rác thải ở đâu, họ sẽ cho chúng ra ngoài đường, sông suối, biển cả vì đó là “tài sản quốc gia” - đã có quốc gia lo, không phải việc của mỗi người dân. Hãy chỉ cho tôi thấy rằng tôi đã sai nếu nói: Người Việt không biết xếp hàng, xếp hàng chỉ dành cho học sinh tiểu học; Người Việt chửi hay còn hơn hát, cứ xách ba lô ra tới thủ đô một chuyến thì sẽ được mục sở thị; Người Việt có đôi mắt siêu hạng nhất vì nhìn đâu cũng thấy cơ hội để mánh mung, lọc lừa; Người Việt vẫn còn luyến tiếc văn hóa làng xã, giai cấp nếu không phải thế thì họ đã không đứng thẳng người chửi đổng và cúi rạp mình trước quyền lực bất công mà chẳng dám lên tiếng;... Người Việt không biết tự hào về người Việt”

    (“Việt Nam – nhà giàu và những đứa con chưa ngoan”            

    – Thanh Nien Online, 24/3/2014)

    Câu 1. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản trên. (0,5 điểm)

    Câu 2. Trong đoạn (1), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

    Câu 3. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng: “Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”?  (0,5 điểm)

    Câu 4. Anh/chị hãy nêu suy nghĩ của bản thân về vấn đề được đề cập trong đoạn trích trên. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,25 điểm)

    Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

    “Mấy nghìn năm giông bão xiết tay nhau

    Những chàng trai không bao giờ lui bước

    Dẫu kẻ thù sau lưng hay phía trước

    Lòng kiên trung như một mũi tên đồng

     

    Những cô gái dịu dàng như mặt sông

    Như tay mẹ nâng niu từng ngọn lúa

    Giặc đến nhà, nước sông kia hóa lửa

    Cháy bùng lên thiêu rụi những tham tàn

     

    Biển Đông có dậy sóng dữ bàng hoàng

    Cả trăm con nguyện hướng về biển biếc

    Cả trăm con cùng cha ra tuyến trước

    Viết tiếp hùng ca giữ nước huy hoàng”.

    (“Gửi cha Lạc Long Quân” – Việt Nga,

    Báo Giáo dục & Thời đại, số đặc biệt giữa tháng 4. 2015)

    Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,25 điểm)

    Câu 6. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng giữa của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

    Câu 7. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

    Câu 8. Anh/chị hãy nhận xét tư tưởng của tác giả thể hiện trong bốn dòng cuối đoạn thơ. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,25 điểm) 

    Phần II. Làm văn (7,0 điểm)

    Câu 1. (3,0 điểm)

    Người Pháp có câu: “Nản lòng là cái chết của tâm hồn”

    Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa câu nói trên.

    Câu 2. (4,0 điểm) 

    Có ý kiến cho rằng: truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân chú tâm miêu tả kĩ lưỡng hiện thực tàn khốc trong nạn đói thê thảm mùa xuân 1945. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: Ở tác phẩm này, nhà văn chủ yếu hướng vào thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của những người dân nghèo sau cái bề ngoài đói khát, xác xơ của họ.

    Từ cảm nhận của mình về tác phẩm, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.

     

    ----- Hết -----

     

     

     

     Giáo viên biên soạn: Lê Thị Hà

     Phan Thị Khôi Nguyên

     Bùi Trang Linh Thiên Nhật

     

     

     

     

     

     

    HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THPT QUỐC GIA

    NĂM HỌC 2014 – 2015 (IV)

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

    Câu 1. Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: “Người Việt không biết tự hào về người Việt”

    - Điểm 0,5: Ghi lại đúng câu văn trên

    - Điểm 0: Ghi câu khác hoặc không trả lời

    Câu 2. Thao tác lập luận so sánh/ thao tác so sánh/ lập luận so sánh/ so sánh.

    - Điểm 0,25: Trả lời đúng theo một trong các cách trên

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 3. Tác giả cho rằng “Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường” vì thực tiễn cách hành xử hiện nay của một bộ phận người Việt đã đi ngược lại với những truyền thống đạo lí tốt đẹp mà ông cha ta đã tạo dựng, đúc kết, lưu truyền qua mấy nghìn năm văn hiến. Đó là những điều đáng xấu hổ.

    Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, chặt chẽ.

    - Điểm 0,5: Trả lời theo cách trên

    - Điểm 0,25: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 4. Hiểu được nội dung đoạn trích: “Từ sự so sánh về biểu hiện ứng xử trong giao tiếp của người Nhật và người Việt Nam, tác giả chỉ ra những phương diện tiêu cực trong cách hành xử của người Việt Nam để lưu ý mọi người thay đổi”

    Trình bày suy nghĩ của bản thân về vấn đề: cảm thấy hổ thẹn và có ý thức khắc phục, sửa đổi để trở thành người có văn hóa

    Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

    - Điểm 0,25: Hiểu nội dung đoạn trích và bày tỏ được suy nghĩ của bản thân theo hướng trên

    - Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:

    + Câu trả lời chung chung, không rõ ý, không có sức thuyết phục;

    + Không có câu trả lời.

    Câu 5. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm.

    - Điểm 0,25: Trả lời đúng theo 1 trong 2 cách trên

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 6. Hai biện pháp tu từ: so sánh (trong 2 câu “Những cô gái dịu dàng như mặt sông/ Như tay mẹ nâng niu từng ngọn lúa”); ẩn dụ (trong 2 câu “Giặc đến nhà, nước sông kia hóa lửa/ Cháy bùng lên thiêu rụi những tham tàn”).

    - Điểm 0,5: Trả lời đúng 2 biện pháp tu từ theo cách trên

    - Điểm 0,25: Trả lời đúng 1 trong 2 biện pháp tu từ theo cách trên

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 7. Nội dung chính của đoạn thơ: Khẳng định, ngợi ca tấm lòng kiên trung, bất khuất; quyết tâm đấu tranh đến cùng để bảo vệ đất nước, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, viết tiếp truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước ở mỗi người dân Việt Nam.

    Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết  phục.

    - Điểm 0,5: Trả lời đúng, đầy đủ 2 ý trên hoặc diễn đạt theo cách khác nhưng hợp lí.

    - Điểm 0,25: Trả lời được 1 trong 2 ý trên; trả lời chung chung, chưa thật rõ ý.  

    - Điểm 0: Trả lời không hợp lí hoặc không có câu trả lời.

    Câu 8. Tư tưởng của tác giả thể hiện trong bốn dòng cuối đoạn thơ: Khẳng định ý chí quyết tâm của mỗi người dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ để phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước huy hoàng của các thế hệ cha ông đi trước. Đó là suy nghĩ, thái độ của một con người có lòng yêu nước, ý thức được trách nhiệm của mình đối với đất nước.     

    Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết  phục.

    - Điểm 0,25: Nêu đầy đủ tư tưởng của tác giả và nhận xét theo hướng trên; hoặc nêu chưa đầy đủ tư tưởng của tác giả theo hướng trên nhưng nhận xét có sức thuyết phục.

    - Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:

    + Nêu không đúng quan niệm của tác giả và không nhận xét hoặc nhận xét không có sức thuyết phục;

    + Câu trả lời chung chung, không rõ ý; 

    + Không có câu trả lời.

    II. Làm văn (7,0 điểm)

    Câu 1. (3,0 điểm)

    * Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

    * Yêu cầu cụ thể:

    a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

    - Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

    - Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

    b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sự phê phán mãnh liệt đối với những ai thiếu dũng khí không giữ được chí cho bền, yếu đuối về mặt ý chí và nghị lực.

    - Điểm 0, 25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, nêu chung chung.

    - Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

    c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động (1,0 điểm):

    - Điểm 1,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

    + Giải thích ý kiến để thấy được: sự phê phán đối với những người thiếu ý chí, niềm tin, nghị lực; Sự bền lòng, vững chí là yếu tố rất cần thiết trong cuộc sống thường ngày của tất cả mọi người, mọi giới; Câu nói trên là một tư tưởng quí báu, một bài học sâu sắc khuyên bảo mọi người kiên trì nhẫn nại trước mọi khó khăn trên đường đời để được thành công

    + Chứng minh tính đúng đắn (hoặc sai lầm; hoặc vừa đúng, vừa sai) của ý kiến bằng việc bày tỏ sự đồng tình (hoặc phản đối; hoặc vừa đồng tình, vừa phản đối) đối với ý kiến. Lập luận phải chặt chẽ, có sức thuyết phục. 

    + Bình luận để rút ra bài học cho bản thân và những người xung quanh về vai trò của ý chí, nghị lực, niềm tin trong cuộc sống

    - Điểm 0,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (giải thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ.

    - Điểm 0,5: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

    - Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

    - Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

    d) Sáng tạo (0,5 điểm)

    - Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) ; thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    - Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    - Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    - Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    - Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    Câu 2. (4,0 điểm)

    * Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

    * Yêu cầu cụ thể:

    a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

    - Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

    - Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

    b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: bình luận về hai ý kiến đối với tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân

    - Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.

    - Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

    c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng (2,0 điểm):

    - Điểm 2,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

    + Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, dẫn hai ý kiến; 

    + Giải thích ý kiến:

    ++ “Hiện thực tàn khốc” là toàn bộ hiện thực đời sống vô cùng khắc nghiệt, gây hậu quả nghiêm trọng, đau xót. Ý kiến thứ nhất coi việc tái hiện không khí bi thảm trong nạn đói mùa xuân 1945 là cảm hứng chủ đạo của nhà văn Kim Lân khi viết “Vợ nhặt”.

    ++ “Vẻ đẹp tiềm ẩn” là vẻ đẹp của đời sống nội tâm, vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp của đạo lí, tình nghĩa,…còn ẩn giấu bên trong cái vẻ ngoài tầm thường, xấu xí. Ý kiến thứ hai coi việc phát hiện, ngợi ca, trân trọng, nâng niu những vẻ đẹp tâm hồn con người mới là cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm “Vợ nhặt”.

    + Cảm nhận về tác phẩm “Vợ nhặt”

          ++ Trong “Vợ nhặt”, Kim Lân chú tâm miêu tả hiện thực tàn khốc khi nạn đói thê thảm mùa xuân 1945 diễn ra:

    +++ Hiện thực đói khát tàn khốc khiến ranh giới của sự sống và cái chết trở nên hết sức mong manh.

    +++ Hiện thực đói khát tàn khốc hiện diện qua cả hình ảnh, âm thanh, mùi vị.

    +++ Hiện thực tàn khốc khiến giá trị con người trở nên rẻ rúng.

    +++ Hiện thực tàn khốc khiến con người sống cuộc sống không ra người.

          ++ Ở “Vợ nhặt”, Kim Lân càng chú tâm thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn ở những người dân nghèo sau cái bề ngoài đói khát, xác xơ của họ.

    +++Vẻ đẹp của đạo lí, của tình người.

    +++ Vẻ đẹp ở ý thức, trách nhiệm đối với gia đình.

    +++ Vẻ đẹp ở niềm tin mãnh liệt vào tương lai, tin vào sự sống.

    + Nghệ thuật: xây dựng được tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn; miêu tả cảnh đặc sắc với những hình ảnh có tính chất đối lập; ngôn ngữ giàu giá trị gợi hình; dựng được những đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm sinh động, phù hợp tâm lí nhân vật; ...

    + Bình luận về hai ý kiến được nêu trong đề bài:

    ++ Trong “Vợ nhặt”, quả thực Kim Lân có miêu tả hiện thực tàn khốc trong nạn đói 1945, nhưng nhà văn vẫn chủ yếu hướng vào thể hiện những vẻ đẹp tiềm ẩn của người lao động. Chính nhiệt tình ngợi ca, trân trọng, nâng niu những vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp nhân phẩm và đạo lí của người dân xóm ngụ cư mới là cảm hứng chủ đạo của nhà văn và từ đó tạo nên giá trị nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm.

    ++ Hai nhận định trên về truyện ngắn “Vợ nhặt” tuy có điểm khác nhau nhưng không hề đối lập. Trái lại, hai ý kiến cùng làm nổi bật giá trị của tác phẩm cũng như tư tưởng của Kim Lân qua truyện ngắn này.

    Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục.

    - Điểm 1,5 - 1,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (phân tích, nghị luận) còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ.

     - Điểm 1,0 -1,25 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

    - Điểm 0,5 - 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

    - Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

    - Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

    d) Sáng tạo (0,5 điểm)

    - Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) ; văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    - Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    - Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    - Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    - Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Giáo viên biên soạn: Lê Thị Hà

     Phan Thị Khôi Nguyên

     Bùi Trang Linh Thiên Nhật

     

     SỞ GD& ĐT TÂY NINH                             ĐỀ THI THPT QUỐC GIA NĂM HỌC 2014 – 2015 (IV)

    TRƯỜNG THPT TÂY NINH                                             MÔN: NGỮ VĂN

    Thời gian:  180 phút (không kể thời gian giao đề)

     

     

     

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

    Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:  …

    (1) “Tôi có một nước Nhật để tự hào… Tôi tự hào vì đất nước tôi không có bề dày văn hiến lâu đời nên chúng tôi sẵn sàng học hỏi và tiếp nhận tinh hoa mà các dân tộc khác “chia sẻ”. Từ trong trứng nước, mỗi đứa trẻ đã được học cách cúi chào trước người khác. Cái cúi chào ấy là đại diện cho hệ tư tưởng của cả một dân tộc biết trọng thị, khiêm nhường nhưng tự trọng cao ngời. Tôi tự hào vì đất nước tôi được thử thách nhiều hơn bất kỳ ai. Khi thảm họa động đất sóng thần kép diễn ra, cả thế giới gần như “chấn động”. Chấn động vì giữa hoang tàn, đổ nát, đói khổ và biệt lập, người ta chỉ nhìn thấy từng dòng người kiên nhẫn xếp hàng nhận cứu trợ và cúi đầu từ tốn cảm ơn. Không có cảnh hôi của, lên giá, cướp bóc, bạo lực nào diễn ra giữa sự cùng khổ...

    (2) Bạn cũng có một nước Việt để tự hào…. Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường. Tại các thành phố, chỉ cần nhà mình sạch sẽ là được, ngoài phạm vi ngôi nhà, bẩn đến đâu, không ai quan tâm. Ở các nhà máy, nếu không biết dồn rác thải ở đâu, họ sẽ cho chúng ra ngoài đường, sông suối, biển cả vì đó là “tài sản quốc gia” - đã có quốc gia lo, không phải việc của mỗi người dân. Hãy chỉ cho tôi thấy rằng tôi đã sai nếu nói: Người Việt không biết xếp hàng, xếp hàng chỉ dành cho học sinh tiểu học; Người Việt chửi hay còn hơn hát, cứ xách ba lô ra tới thủ đô một chuyến thì sẽ được mục sở thị; Người Việt có đôi mắt siêu hạng nhất vì nhìn đâu cũng thấy cơ hội để mánh mung, lọc lừa; Người Việt vẫn còn luyến tiếc văn hóa làng xã, giai cấp nếu không phải thế thì họ đã không đứng thẳng người chửi đổng và cúi rạp mình trước quyền lực bất công mà chẳng dám lên tiếng;... Người Việt không biết tự hào về người Việt”

    (“Việt Nam – nhà giàu và những đứa con chưa ngoan”            

    – Thanh Nien Online, 24/3/2014)

    Câu 1. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản trên. (0,5 điểm)

    Câu 2. Trong đoạn (1), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

    Câu 3. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng: “Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”?  (0,5 điểm)

    Câu 4. Anh/chị hãy nêu suy nghĩ của bản thân về vấn đề được đề cập trong đoạn trích trên. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,25 điểm)

    Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

    “Mấy nghìn năm giông bão xiết tay nhau

    Những chàng trai không bao giờ lui bước

    Dẫu kẻ thù sau lưng hay phía trước

    Lòng kiên trung như một mũi tên đồng

     

    Những cô gái dịu dàng như mặt sông

    Như tay mẹ nâng niu từng ngọn lúa

    Giặc đến nhà, nước sông kia hóa lửa

    Cháy bùng lên thiêu rụi những tham tàn

     

    Biển Đông có dậy sóng dữ bàng hoàng

    Cả trăm con nguyện hướng về biển biếc

    Cả trăm con cùng cha ra tuyến trước

    Viết tiếp hùng ca giữ nước huy hoàng”.

    (“Gửi cha Lạc Long Quân” – Việt Nga,

    Báo Giáo dục & Thời đại, số đặc biệt giữa tháng 4. 2015)

    Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,25 điểm)

    Câu 6. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng giữa của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

    Câu 7. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

    Câu 8. Anh/chị hãy nhận xét tư tưởng của tác giả thể hiện trong bốn dòng cuối đoạn thơ. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,25 điểm) 

    Phần II. Làm văn (7,0 điểm)

    Câu 1. (3,0 điểm)

    Người Pháp có câu: “Nản lòng là cái chết của tâm hồn”

    Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa câu nói trên.

    Câu 2. (4,0 điểm) 

    Có ý kiến cho rằng: truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân chú tâm miêu tả kĩ lưỡng hiện thực tàn khốc trong nạn đói thê thảm mùa xuân 1945. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: Ở tác phẩm này, nhà văn chủ yếu hướng vào thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của những người dân nghèo sau cái bề ngoài đói khát, xác xơ của họ.

    Từ cảm nhận của mình về tác phẩm, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.

     

    ----- Hết -----

     

     

     

     Giáo viên biên soạn: Lê Thị Hà

     Phan Thị Khôi Nguyên

     Bùi Trang Linh Thiên Nhật

     

     

     

     

     

     

    HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THPT QUỐC GIA

    NĂM HỌC 2014 – 2015 (IV)

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

    Câu 1. Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: “Người Việt không biết tự hào về người Việt”

    - Điểm 0,5: Ghi lại đúng câu văn trên

    - Điểm 0: Ghi câu khác hoặc không trả lời

    Câu 2. Thao tác lập luận so sánh/ thao tác so sánh/ lập luận so sánh/ so sánh.

    - Điểm 0,25: Trả lời đúng theo một trong các cách trên

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 3. Tác giả cho rằng “Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường” vì thực tiễn cách hành xử hiện nay của một bộ phận người Việt đã đi ngược lại với những truyền thống đạo lí tốt đẹp mà ông cha ta đã tạo dựng, đúc kết, lưu truyền qua mấy nghìn năm văn hiến. Đó là những điều đáng xấu hổ.

    Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, chặt chẽ.

    - Điểm 0,5: Trả lời theo cách trên

    - Điểm 0,25: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 4. Hiểu được nội dung đoạn trích: “Từ sự so sánh về biểu hiện ứng xử trong giao tiếp của người Nhật và người Việt Nam, tác giả chỉ ra những phương diện tiêu cực trong cách hành xử của người Việt Nam để lưu ý mọi người thay đổi”

    Trình bày suy nghĩ của bản thân về vấn đề: cảm thấy hổ thẹn và có ý thức khắc phục, sửa đổi để trở thành người có văn hóa

    Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

    - Điểm 0,25: Hiểu nội dung đoạn trích và bày tỏ được suy nghĩ của bản thân theo hướng trên

    - Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:

    + Câu trả lời chung chung, không rõ ý, không có sức thuyết phục;

    + Không có câu trả lời.

    Câu 5. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm.

    - Điểm 0,25: Trả lời đúng theo 1 trong 2 cách trên

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 6. Hai biện pháp tu từ: so sánh (trong 2 câu “Những cô gái dịu dàng như mặt sông/ Như tay mẹ nâng niu từng ngọn lúa”); ẩn dụ (trong 2 câu “Giặc đến nhà, nước sông kia hóa lửa/ Cháy bùng lên thiêu rụi những tham tàn”).

    - Điểm 0,5: Trả lời đúng 2 biện pháp tu từ theo cách trên

    - Điểm 0,25: Trả lời đúng 1 trong 2 biện pháp tu từ theo cách trên

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 7. Nội dung chính của đoạn thơ: Khẳng định, ngợi ca tấm lòng kiên trung, bất khuất; quyết tâm đấu tranh đến cùng để bảo vệ đất nước, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, viết tiếp truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước ở mỗi người dân Việt Nam.

    Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết  phục.

    - Điểm 0,5: Trả lời đúng, đầy đủ 2 ý trên hoặc diễn đạt theo cách khác nhưng hợp lí.

    - Điểm 0,25: Trả lời được 1 trong 2 ý trên; trả lời chung chung, chưa thật rõ ý.  

    - Điểm 0: Trả lời không hợp lí hoặc không có câu trả lời.

    Câu 8. Tư tưởng của tác giả thể hiện trong bốn dòng cuối đoạn thơ: Khẳng định ý chí quyết tâm của mỗi người dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ để phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước huy hoàng của các thế hệ cha ông đi trước. Đó là suy nghĩ, thái độ của một con người có lòng yêu nước, ý thức được trách nhiệm của mình đối với đất nước.     

    Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết  phục.

    - Điểm 0,25: Nêu đầy đủ tư tưởng của tác giả và nhận xét theo hướng trên; hoặc nêu chưa đầy đủ tư tưởng của tác giả theo hướng trên nhưng nhận xét có sức thuyết phục.

    - Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:

    + Nêu không đúng quan niệm của tác giả và không nhận xét hoặc nhận xét không có sức thuyết phục;

    + Câu trả lời chung chung, không rõ ý; 

    + Không có câu trả lời.

    II. Làm văn (7,0 điểm)

    Câu 1. (3,0 điểm)

    * Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

    * Yêu cầu cụ thể:

    a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

    - Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

    - Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

    b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sự phê phán mãnh liệt đối với những ai thiếu dũng khí không giữ được chí cho bền, yếu đuối về mặt ý chí và nghị lực.

    - Điểm 0, 25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, nêu chung chung.

    - Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

    c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động (1,0 điểm):

    - Điểm 1,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

    + Giải thích ý kiến để thấy được: sự phê phán đối với những người thiếu ý chí, niềm tin, nghị lực; Sự bền lòng, vững chí là yếu tố rất cần thiết trong cuộc sống thường ngày của tất cả mọi người, mọi giới; Câu nói trên là một tư tưởng quí báu, một bài học sâu sắc khuyên bảo mọi người kiên trì nhẫn nại trước mọi khó khăn trên đường đời để được thành công

    + Chứng minh tính đúng đắn (hoặc sai lầm; hoặc vừa đúng, vừa sai) của ý kiến bằng việc bày tỏ sự đồng tình (hoặc phản đối; hoặc vừa đồng tình, vừa phản đối) đối với ý kiến. Lập luận phải chặt chẽ, có sức thuyết phục. 

    + Bình luận để rút ra bài học cho bản thân và những người xung quanh về vai trò của ý chí, nghị lực, niềm tin trong cuộc sống

    - Điểm 0,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (giải thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ.

    - Điểm 0,5: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

    - Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

    - Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

    d) Sáng tạo (0,5 điểm)

    - Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) ; thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    - Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    - Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    - Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    - Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    Câu 2. (4,0 điểm)

    * Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

    * Yêu cầu cụ thể:

    a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

    - Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

    - Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

    b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: bình luận về hai ý kiến đối với tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân

    - Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.

    - Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

    c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng (2,0 điểm):

    - Điểm 2,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

    + Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, dẫn hai ý kiến; 

    + Giải thích ý kiến:

    ++ “Hiện thực tàn khốc” là toàn bộ hiện thực đời sống vô cùng khắc nghiệt, gây hậu quả nghiêm trọng, đau xót. Ý kiến thứ nhất coi việc tái hiện không khí bi thảm trong nạn đói mùa xuân 1945 là cảm hứng chủ đạo của nhà văn Kim Lân khi viết “Vợ nhặt”.

    ++ “Vẻ đẹp tiềm ẩn” là vẻ đẹp của đời sống nội tâm, vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp của đạo lí, tình nghĩa,…còn ẩn giấu bên trong cái vẻ ngoài tầm thường, xấu xí. Ý kiến thứ hai coi việc phát hiện, ngợi ca, trân trọng, nâng niu những vẻ đẹp tâm hồn con người mới là cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm “Vợ nhặt”.

    + Cảm nhận về tác phẩm “Vợ nhặt”

          ++ Trong “Vợ nhặt”, Kim Lân chú tâm miêu tả hiện thực tàn khốc khi nạn đói thê thảm mùa xuân 1945 diễn ra:

    +++ Hiện thực đói khát tàn khốc khiến ranh giới của sự sống và cái chết trở nên hết sức mong manh.

    +++ Hiện thực đói khát tàn khốc hiện diện qua cả hình ảnh, âm thanh, mùi vị.

    +++ Hiện thực tàn khốc khiến giá trị con người trở nên rẻ rúng.

    +++ Hiện thực tàn khốc khiến con người sống cuộc sống không ra người.

          ++ Ở “Vợ nhặt”, Kim Lân càng chú tâm thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn ở những người dân nghèo sau cái bề ngoài đói khát, xác xơ của họ.

    +++Vẻ đẹp của đạo lí, của tình người.

    +++ Vẻ đẹp ở ý thức, trách nhiệm đối với gia đình.

    +++ Vẻ đẹp ở niềm tin mãnh liệt vào tương lai, tin vào sự sống.

    + Nghệ thuật: xây dựng được tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn; miêu tả cảnh đặc sắc với những hình ảnh có tính chất đối lập; ngôn ngữ giàu giá trị gợi hình; dựng được những đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm sinh động, phù hợp tâm lí nhân vật; ...

    + Bình luận về hai ý kiến được nêu trong đề bài:

    ++ Trong “Vợ nhặt”, quả thực Kim Lân có miêu tả hiện thực tàn khốc trong nạn đói 1945, nhưng nhà văn vẫn chủ yếu hướng vào thể hiện những vẻ đẹp tiềm ẩn của người lao động. Chính nhiệt tình ngợi ca, trân trọng, nâng niu những vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp nhân phẩm và đạo lí của người dân xóm ngụ cư mới là cảm hứng chủ đạo của nhà văn và từ đó tạo nên giá trị nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm.

    ++ Hai nhận định trên về truyện ngắn “Vợ nhặt” tuy có điểm khác nhau nhưng không hề đối lập. Trái lại, hai ý kiến cùng làm nổi bật giá trị của tác phẩm cũng như tư tưởng của Kim Lân qua truyện ngắn này.

    Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục.

    - Điểm 1,5 - 1,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (phân tích, nghị luận) còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ.

     - Điểm 1,0 -1,25 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

    - Điểm 0,5 - 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

    - Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

    - Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

    d) Sáng tạo (0,5 điểm)

    - Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) ; văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    - Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    - Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    - Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    - Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Giáo viên biên soạn: Lê Thị Hà

     Phan Thị Khôi Nguyên

     Bùi Trang Linh Thiên Nhật

     

     SỞ GD& ĐT TÂY NINH                             ĐỀ THI THPT QUỐC GIA NĂM HỌC 2014 – 2015 (IV)

    TRƯỜNG THPT TÂY NINH                                             MÔN: NGỮ VĂN

    Thời gian:  180 phút (không kể thời gian giao đề)

     

     

     

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

    Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:  …

    (1) “Tôi có một nước Nhật để tự hào… Tôi tự hào vì đất nước tôi không có bề dày văn hiến lâu đời nên chúng tôi sẵn sàng học hỏi và tiếp nhận tinh hoa mà các dân tộc khác “chia sẻ”. Từ trong trứng nước, mỗi đứa trẻ đã được học cách cúi chào trước người khác. Cái cúi chào ấy là đại diện cho hệ tư tưởng của cả một dân tộc biết trọng thị, khiêm nhường nhưng tự trọng cao ngời. Tôi tự hào vì đất nước tôi được thử thách nhiều hơn bất kỳ ai. Khi thảm họa động đất sóng thần kép diễn ra, cả thế giới gần như “chấn động”. Chấn động vì giữa hoang tàn, đổ nát, đói khổ và biệt lập, người ta chỉ nhìn thấy từng dòng người kiên nhẫn xếp hàng nhận cứu trợ và cúi đầu từ tốn cảm ơn. Không có cảnh hôi của, lên giá, cướp bóc, bạo lực nào diễn ra giữa sự cùng khổ...

    (2) Bạn cũng có một nước Việt để tự hào…. Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường. Tại các thành phố, chỉ cần nhà mình sạch sẽ là được, ngoài phạm vi ngôi nhà, bẩn đến đâu, không ai quan tâm. Ở các nhà máy, nếu không biết dồn rác thải ở đâu, họ sẽ cho chúng ra ngoài đường, sông suối, biển cả vì đó là “tài sản quốc gia” - đã có quốc gia lo, không phải việc của mỗi người dân. Hãy chỉ cho tôi thấy rằng tôi đã sai nếu nói: Người Việt không biết xếp hàng, xếp hàng chỉ dành cho học sinh tiểu học; Người Việt chửi hay còn hơn hát, cứ xách ba lô ra tới thủ đô một chuyến thì sẽ được mục sở thị; Người Việt có đôi mắt siêu hạng nhất vì nhìn đâu cũng thấy cơ hội để mánh mung, lọc lừa; Người Việt vẫn còn luyến tiếc văn hóa làng xã, giai cấp nếu không phải thế thì họ đã không đứng thẳng người chửi đổng và cúi rạp mình trước quyền lực bất công mà chẳng dám lên tiếng;... Người Việt không biết tự hào về người Việt”

    (“Việt Nam – nhà giàu và những đứa con chưa ngoan”            

    – Thanh Nien Online, 24/3/2014)

    Câu 1. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản trên. (0,5 điểm)

    Câu 2. Trong đoạn (1), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

    Câu 3. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng: “Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”?  (0,5 điểm)

    Câu 4. Anh/chị hãy nêu suy nghĩ của bản thân về vấn đề được đề cập trong đoạn trích trên. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,25 điểm)

    Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

    “Mấy nghìn năm giông bão xiết tay nhau

    Những chàng trai không bao giờ lui bước

    Dẫu kẻ thù sau lưng hay phía trước

    Lòng kiên trung như một mũi tên đồng

     

    Những cô gái dịu dàng như mặt sông

    Như tay mẹ nâng niu từng ngọn lúa

    Giặc đến nhà, nước sông kia hóa lửa

    Cháy bùng lên thiêu rụi những tham tàn

     

    Biển Đông có dậy sóng dữ bàng hoàng

    Cả trăm con nguyện hướng về biển biếc

    Cả trăm con cùng cha ra tuyến trước

    Viết tiếp hùng ca giữ nước huy hoàng”.

    (“Gửi cha Lạc Long Quân” – Việt Nga,

    Báo Giáo dục & Thời đại, số đặc biệt giữa tháng 4. 2015)

    Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,25 điểm)

    Câu 6. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng giữa của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

    Câu 7. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

    Câu 8. Anh/chị hãy nhận xét tư tưởng của tác giả thể hiện trong bốn dòng cuối đoạn thơ. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,25 điểm) 

    Phần II. Làm văn (7,0 điểm)

    Câu 1. (3,0 điểm)

    Người Pháp có câu: “Nản lòng là cái chết của tâm hồn”

    Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa câu nói trên.

    Câu 2. (4,0 điểm) 

    Có ý kiến cho rằng: truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân chú tâm miêu tả kĩ lưỡng hiện thực tàn khốc trong nạn đói thê thảm mùa xuân 1945. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: Ở tác phẩm này, nhà văn chủ yếu hướng vào thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của những người dân nghèo sau cái bề ngoài đói khát, xác xơ của họ.

    Từ cảm nhận của mình về tác phẩm, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.

     

    ----- Hết -----

     

     

     

     Giáo viên biên soạn: Lê Thị Hà

     Phan Thị Khôi Nguyên

     Bùi Trang Linh Thiên Nhật

     

     

     

     

     

     

    HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THPT QUỐC GIA

    NĂM HỌC 2014 – 2015 (IV)

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

    Câu 1. Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: “Người Việt không biết tự hào về người Việt”

    - Điểm 0,5: Ghi lại đúng câu văn trên

    - Điểm 0: Ghi câu khác hoặc không trả lời

    Câu 2. Thao tác lập luận so sánh/ thao tác so sánh/ lập luận so sánh/ so sánh.

    - Điểm 0,25: Trả lời đúng theo một trong các cách trên

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 3. Tác giả cho rằng “Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường” vì thực tiễn cách hành xử hiện nay của một bộ phận người Việt đã đi ngược lại với những truyền thống đạo lí tốt đẹp mà ông cha ta đã tạo dựng, đúc kết, lưu truyền qua mấy nghìn năm văn hiến. Đó là những điều đáng xấu hổ.

    Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, chặt chẽ.

    - Điểm 0,5: Trả lời theo cách trên

    - Điểm 0,25: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 4. Hiểu được nội dung đoạn trích: “Từ sự so sánh về biểu hiện ứng xử trong giao tiếp của người Nhật và người Việt Nam, tác giả chỉ ra những phương diện tiêu cực trong cách hành xử của người Việt Nam để lưu ý mọi người thay đổi”

    Trình bày suy nghĩ của bản thân về vấn đề: cảm thấy hổ thẹn và có ý thức khắc phục, sửa đổi để trở thành người có văn hóa

    Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

    - Điểm 0,25: Hiểu nội dung đoạn trích và bày tỏ được suy nghĩ của bản thân theo hướng trên

    - Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:

    + Câu trả lời chung chung, không rõ ý, không có sức thuyết phục;

    + Không có câu trả lời.

    Câu 5. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm.

    - Điểm 0,25: Trả lời đúng theo 1 trong 2 cách trên

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 6. Hai biện pháp tu từ: so sánh (trong 2 câu “Những cô gái dịu dàng như mặt sông/ Như tay mẹ nâng niu từng ngọn lúa”); ẩn dụ (trong 2 câu “Giặc đến nhà, nước sông kia hóa lửa/ Cháy bùng lên thiêu rụi những tham tàn”).

    - Điểm 0,5: Trả lời đúng 2 biện pháp tu từ theo cách trên

    - Điểm 0,25: Trả lời đúng 1 trong 2 biện pháp tu từ theo cách trên

    - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

    Câu 7. Nội dung chính của đoạn thơ: Khẳng định, ngợi ca tấm lòng kiên trung, bất khuất; quyết tâm đấu tranh đến cùng để bảo vệ đất nước, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, viết tiếp truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước ở mỗi người dân Việt Nam.

    Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết  phục.

    - Điểm 0,5: Trả lời đúng, đầy đủ 2 ý trên hoặc diễn đạt theo cách khác nhưng hợp lí.

    - Điểm 0,25: Trả lời được 1 trong 2 ý trên; trả lời chung chung, chưa thật rõ ý.  

    - Điểm 0: Trả lời không hợp lí hoặc không có câu trả lời.

    Câu 8. Tư tưởng của tác giả thể hiện trong bốn dòng cuối đoạn thơ: Khẳng định ý chí quyết tâm của mỗi người dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ để phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước huy hoàng của các thế hệ cha ông đi trước. Đó là suy nghĩ, thái độ của một con người có lòng yêu nước, ý thức được trách nhiệm của mình đối với đất nước.     

    Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết  phục.

    - Điểm 0,25: Nêu đầy đủ tư tưởng của tác giả và nhận xét theo hướng trên; hoặc nêu chưa đầy đủ tư tưởng của tác giả theo hướng trên nhưng nhận xét có sức thuyết phục.

    - Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:

    + Nêu không đúng quan niệm của tác giả và không nhận xét hoặc nhận xét không có sức thuyết phục;

    + Câu trả lời chung chung, không rõ ý; 

    + Không có câu trả lời.

    II. Làm văn (7,0 điểm)

    Câu 1. (3,0 điểm)

    * Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

    * Yêu cầu cụ thể:

    a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

    - Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

    - Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

    b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

    - Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sự phê phán mãnh liệt đối với những ai thiếu dũng khí không giữ được chí cho bền, yếu đuối về mặt ý chí và nghị lực.

    - Điểm 0, 25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, nêu chung chung.

    - Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

    c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển kh


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thị Hà @ 23:27 23/04/2015
    Số lượt xem: 2442
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến